Tin tức chi tiết

Nhập mã cổ phiếu dưới đây để tìm được những thông tin hữu ích nhất !
Tìm kiếm theo mã CK :
Tra cứu | Tìm kiếm nâng cao
Chi phí vốn tại doanh nghiệp giảm không phải do lãi suất giảm?
Đầu tư Chứng khoán điện tử - 25/05/2012 8:02:51 SA        -
MÃ LIÊN QUAN
Giá Thay đổi
IFS 9,00 0,00%
PPC 21,50 0,00%
PVD 25,10 0,00%
TLT 2,90 0,00%
VIC 65,10 0,00%
PVS 15,00 0,00%
QNC 7,00 0,00%
HPG 25,95 0,00%
HT1 28,90 0,00%
VKP 0,90 0,00%
DDM 3,00 0,00%
SDS 4,60 0,00%
VCG 10,40 0,00%
VSG 1,60 0,00%
STL 7,40 0,00%
HAG 8,00 0,00%
MSN 86,60 0,00%
VCH 2,00 0,00%
S27 2,20 0,00%
STT 2,99 0,00%
GAS 33,00 6,45%

Chi phí lãi vay trong quý I/2012 của một số DN giảm mạnh, tuy nhiên, nó không đến từ việc giảm lãi suất, mà đến từ cách hạch toán chi phí của DN.
 
Trần lãi suất huy động liên tục giảm từ mức 14%/năm đầu năm 2012 về 13%/năm trong quý I/2012 và hiện nay chỉ còn 12%/năm. Lãi suất cho vay một số lĩnh vực cũng được giới hạn ở trần 15%/năm, nhưng những khoản vay lãi suất thấp không dành cho tất cả các DN niêm yết.

Những chuyển động tích cực

Quý I/2012, CTCP Xi măng và xây dựng Quảng Ninh (mã QNC) công bố kết quả kinh doanh với lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của Công ty mẹ là 1,186 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế (LNST) là 1,52 tỷ đồng. Đây là con số không lớn so với vốn điều lệ 184,511 tỷ đồng. Tuy nhiên, một điểm tích cực thể hiện trên báo cáo này là, chi phí lãi vay của QNC trong quý I/2012 là 36,336 tỷ đồng, thấp hơn so với con số 38,103 tỷ đồng trong quý IV/2011, dù tổng nợ ngắn và dài hạn chỉ thay đổi rất ít. Trong quý IV/2011, chi phí lãi vay tăng cao đã khiến lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh bị âm 2,7 tỷ đồng.

Cụ thể, cuối quý IV/2011, QNC có 565,73 tỷ đồng nợ ngắn hạn và 880,57 tỷ đồng nợ dài hạn. Sang quý I/2012, vay nợ của QNC đã giảm dần, chỉ còn 544 tỷ đồng nợ ngắn hạn và 863 tỷ đồng nợ dài hạn tại thời điểm chốt báo cáo quý. Diễn biến giảm dần con số lãi vay từ mức 40,535 tỷ đồng trong quý III/2011 về 36,336 tỷ đồng vào quý I/2012 trong khi số vay nợ giảm nhẹ hơn cho thấy, giảm lãi suất thực sự làm giảm chi phí vốn vay của QNC.

Đặc biệt, trường hợp CTCP Sông Đà Thăng Long (STL), đơn vị từng được thị trường quan tâm đặt câu hỏi về khả năng tồn tại trong “cơn bão” lãi suất, đã có những chuyển biến tích cực trong việc giảm chi phí vốn vay. Trong khi tổng mức vốn vay hầu như không thay đổi kể từ quý IV/2011 đến quý I/2012, chi phí lãi vay của STL lại sụt giảm gần 10 tỷ đồng. Quý IV/2011, tổng chi phí lãi vay của đơn vị này là 47,362 tỷ đồng, sang quý I/2012, con số này đã giảm mạnh về 37,711 tỷ đồng. Đây là tín hiệu tích cực cho cổ đông STL, nhất là trong bối cảnh thị trường bất động sản vẫn còn khó khăn.

 

Top 10 DN có hệ số nợ trên vốn chủ lớn nhất

 

STT

Mã CK

D/E (31/12/2011) (lần)

Vay nợ I/2012

Lãi vay quý I/2012

Vay nợ IV/2011

Lãi vay quý IV/2011

1

DDM

34,95

1.050,895

16,387

1.065,429

17,252

2

S27

15,95

59,804

2,465

60,187

3,854

3

VSG

15,17

426,018

5,047

426,018

5,429

4

STL

13,26

3.095,701

37,711

3.111,3

47,362

5

VKP

10,97

-

-

141,525

5,985

6

TLT

9,23

178,533

7,807

181,293

7,636

7

VCH

9,13

70,592

2,787

68,01

4,144

8

SDS

7,61

190,642

4,478

222,603

3,748

9

QNC

6,46

1.407,502

36,331

1.446,307

38,103

10

IFS

5,97

488,019

2

467,191

3,843

 

 

Top 10 DN có tổng giá trị vay nợ lớn nhất

 

STT

Mã CK

Vay nợ 31/3/2012

Lãi vay quý I/2012

Nợ vay 31/12/2011)

Lãi vay quý IV/2011

1

GAS(*)

10.678,889

148,532

11.016,72

405,316

2

HAG(*)

12.194,558

121,837

11.625,80

52,938

3

PVS

5.585,308

12,948

5.601,13

52,582

4

HPG(*)

5.762,706

175,876

6.424,22

327,971

5

VCG

6.968,984

133,22

7.182,62

137,744

6

VIC

5.835,61

198,483

7.636,57

236,823

7

PVD(*)

7.540,21

70,949

7.901,21

62,483

8

PPC(*)

7.886,633

50,335

8.172,53

56,22

9

HT1(*)

9.048,983

215,197

8.918,89

197,698

10

MSN(*)

14.679,527

112,428

9.442,18

112,585

 

Nguồn: BCTC Công ty mẹ quý IV/2011 và quý I/2012; (*): số liệu BCTC hợp nhất, đơn vị tỷ đồng

 

Tương tự Sông Đà Thăng Long, một số công ty khác cũng có mức chi phí vốn vay giảm mạnh như: Tổng công ty Khí Việt Nam (mã GAS), hay CTCP Tập đoàn Hoà Phát (HPG)… Bảng thống kê cho thấy, trường hợp của GAS, tổng tiền vay giảm chưa đến 10% từ mức 11.016 tỷ đồng xuống 10.378 tỷ đồng, nhưng lãi vay sụt giảm mạnh từ 405,316 quý IV/2011 xuống 148,532 tỷ đồng quý I/2012. Tất nhiên là trong quý IV/2011, Tổng công ty đã có vay và trả khoản nợ mới xấp xỉ 1.500 tỷ đồng, nhưng kể cả tính thêm con số này, mức giảm tổng số nợ vẫn thấp hơn nhiều mức giảm chi phí lãi vay tương ứng.

Hay trường hợp Tổng CTCP Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (mã PVS), số tiền vay 2 quý gần nhất hầu như không thay đổi nhiều, nhưng chi phí lãi vay thì biến động mạnh, giảm tới hơn 4 lần từ mức 52,582 tỷ đồng về 12,948 tỷ đồng.

Và những diễn biến trái chiều

Tuy nhiên, không phải đơn vị nào cũng được đón nhận những ảnh hưởng tích cực từ thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ. CTCP Xi măng Hà Tiên 1 (mã HT1) là một ví dụ. Dư nợ vay thời điểm cuối quý IV/2011 là gần 8.920 tỷ đồng, tương ứng với nó, chi phí lãi vay trong quý này là 197,698 tỷ đồng. Đến cuối quý I/2012, tổng giá trị vay nợ của HT1 là gần 9.050 tỷ đồng, tức chỉ tăng xấp xỉ 130 tỷ đồng, nhưng chi phí lãi vay của đơn vị này đã tăng lên mức 215,197 tỷ đồng. Chênh lệch về số vốn vay bình quân giữa 2 quý không quá lớn, nhưng HT1 không được hưởng lợi mấy từ diễn biến giảm lãi suất của thị trường.

Tại một số DN khác, chi phí vốn của DN dù có giảm theo thời gian, nhưng mức thay đổi không quá lớn, do dư nợ chủ yếu đến từ trái phiếu, ngoại tệ. Trong đó, các trường hợp điển hình có thể kể đến là: CTCP Tập đoàn Masan (MSN), Tổng CTCP Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (VCG)…

Ngoài ra, CTCP Viglacera Thăng Long (mã TLT) dù có tổng tiền vay quý I/2012 giảm dần so với với quý IV/2011, nhưng chi phí lãi vay vẫn tăng nhẹ từ 7,636 tỷ đồng lên 7,803 tỷ đồng. Hay trường hợp CTCP Hoàng Anh Gia Lai (HAG), giá trị vay nợ giữa các thời điểm cuối quý IV/2011 và quý I/2012 tăng không đáng kể, nhưng chi phí vay tăng tới hơn 2 lần.

Kế toán trưởng của một DN niêm yết hoạt động trong lĩnh vực bất động sản tại TP. HCM cho biết, sau 2 lần xin ân hạn trả nợ mà vẫn không thể trả được khoản vay ngân hàng, DN đã phải đưa ra một phương án trả nợ mới. Theo đó, ngân hàng sẽ cho phép công ty được vay một khoản vay mới lớn hơn khoản vay cũ, một phần để DN trả được chính khoản vay đã bị quá hạn, một phần để bơm vào dự án đang triển khai dở dang với lãi suất hơn 20%/năm. Đi kèm với ưu ái này, DN phải cho ngân hàng được toàn quyền giám sát nguồn tiền vào, ra của DN và phải trả nợ ngay khi có nguồn tiền mới.

Khó khăn vẫn ở phía trước

Tham khảo của ĐTCK cho thấy, dù nguồn vốn tại một số ngân hàng lớn đang ứ đọng nhiều, nhưng tiếp cận vốn của các DN, nhất là những DN đã từng thua lỗ, đang trong giai đoạn tái cơ cấu vẫn còn rất nhiều khó khăn. Thời gian vừa qua, dư luận đã nhắc nhiều đến khó khăn nguồn vốn cho các DN thủy sản, bất động sản và trên thực tế, đến thời điểm này, khó khăn của các DN nói trên vẫn chưa giảm bớt.

Tại một số trường hợp, báo cáo kết quả kinh doanh quý I/2012 cho thấy, chi phí lãi vay giảm mạnh, tuy nhiên, con số này không đến từ việc giảm lãi suất cho vay, mà đến từ cách hạch toán chi phí của DN. Dòng tiền chi trả cho lãi vay trong kỳ của DN vẫn tăng, nhưng vì không bán được hàng nên DN tạm thời không hạch toán chi phí phát sinh liên quan đến vốn vay lưu động phục vụ cho sản xuất.

Nhưng quan trọng hơn cả là, dù ở mức lãi suất hiện tại, không ít DN vẫn ở trong tình trạng điêu đứng. Thống kê các DN niêm yết trên cả hai sàn cho thấy, tỷ lệ thu nhập trên vốn đầu tư (ROIC) chủ yếu dao động ở mức 12 - 14%/năm. Điều này cũng có nghĩa, để đa số các DN niêm yết không phải “oằn lưng cõng nợ” thì mức lãi suất vốn vay hợp lý cần ở dưới 12%/năm, một con số quá xa so với mức vay hiện tại khoảng 18 - 20%/năm của đa số DN.
 

Bùi Sưởng

 

Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.
Tin mới hơn
03/08 Tái cấu trúc doanh nghiệp cần có chiều sâu
03/08 Fitch xếp lô trái phiếu quốc tế của Vietinbank ở mức "B"
02/08 TRC: Giải trình Kết quả kinh doanh Q2-2012
02/08 PNC: Báo cáo tình hình quản trị Q2 năm 2012
02/08 SBC: Báo cáo tình hình quản trị công ty 6 tháng đầu năm 2012
02/08 PGI: Báo cáo tình hình quản trị công ty 6 tháng đầu năm 2012
02/08 HAG: Nghị quyết Hội đồng quản trị
02/08 TCT: Thay đổi lý do và mục đích trả cổ tức và Đại hội Đồng cổ đông
02/08 SHB: Báo cáo quản trị công ty bán niên 2012
02/08 STL: Báo cáo quản trị công ty bán niên 2012
Tin cũ hơn
25/05 Bí bách: Doanh nhân 'lẩn' vào im lặng
25/05 Đại gia ngập nợ: Mắc kẹt nhà đất, dự án trái ngành
24/05 Bộ chỉ số PVN Index sẽ được công bố trong tháng 6
24/05 KDC: Thông báo giao dịch cổ phiếu của cổ đông lớn
24/05 PIT: Ngày đăng ký cuối cùng
24/05 PPI: Thông báo giao dịch cổ phiếu của CĐNB Đặng Xuân Hùng
24/05 TMP: HOSE nhắc nhở chậm nộp Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2011
24/05 TCS: Báo cáo thường niên 2011
24/05 ITC: Thông báo giao dịch cổ phiếu của CĐNB Trương Minh Thuận
24/05 KDC: Báo cáo kết quả giao dịch cổ phiếu của cổ đông lớn Deutsche bank AG London
Tin tức quan trọng
Tìm kiếm Tin doanh nghiệp
Cập nhật thị trường
VN-INDEX 1.159,39 +0,17 / +0,01%
Tìm hiểu về doanh nghiệp
Nhập tên công ty hoặc mã CK để xem thông tin, các thống kê và chỉ tiêu tài chính.
LĨNH VỰC KINH DOANH
Công ty Cổ phần Chứng khoán Hòa Bình
Trụ sở chính: Tầng 7 số 46 - 48 Bà Triệu – Hoàn Kiếm – Hà Nội Tel: (84-4)39368866 Fax: (84-4) 39368665 E-Mail: hbs_ho@hbse.com.vn
Chi nhánh Hồ Chí Minh: Tầng 3 Cao ốc Vimedimex Hòa Bình - 246 Cống Quỳnh, Phạm Ngũ Lão, Quận 1, HCM Tel: (84-8)62906226 Fax: (84-4)62911279
Copyright © 2010 Công ty Cổ phần Chứng khoán Hòa Bình